Cây chè là một loại cây trồng kinh tế quan trọng, nhưng cũng thường xuyên đối mặt với nhiều loại sâu bệnh khác nhau. Để có được những búp chè chất lượng cao và năng suất ổn định, việc hiểu rõ về các loại sâu bệnh và biện pháp phòng trừ là vô cùng cần thiết.
Nội dung
Sâu hại
1. Rầy xanh:
- Triệu chứng gây hại: Rầy xanh dùng vòi châm để hút nhựa cây. Nó gây hại cho cả cây trưởng thành và cây non. Chúng thường bám vào cuống búp và lá non. Rầy xanh hút dịch tế bào ở cuống, gân chính và gân phụ phía dưới mặt lá non. Các vết châm tạo thành những vết nhỏ màu thâm nâu. Từ đó làm tổn thương lá và búp non, cản trở sự vận chuyển dinh dưỡng, dẫn đến búp chè bị chùn lại. Khi bị hại nặng, lá chè khô từ chóp lá lan dần theo hai mép xuống giữa thành lá, thâm đen từ 1/3 đến 1/2 lá, thường gọi là cháy rầy. Lá non bị hại có thể rụng, chỉ còn lại cuống búp chè. Nương chè bị rầy xanh hại ở mức độ trung bình thì lá và búp chè có màu vàng hơi đỏ, nhìn xa giống như nương chè cằn cỗi do thiếu dinh dưỡng.
- Biện pháp phòng trừ: Sử dụng các loại thuốc hóa học như KHONGRAY 54WP HIỆU | ZERO RẦY với lượng 0.3-0.35 kg/ha, pha với 320-500 lít nước; Ledan 95SP hiệu RAY 95 với lượng 100g pha với 200 lít nước; Ledan 4GR hiệu THUỐC RẢI – CHIGO với lượng 10-20 kg/ha rải vào gốc.
2. Bọ cánh tơ:
- Triệu chứng gây hại: Bọ cánh tơ cư trú và gây hại ở cả mặt trên và mặt dưới lá chè non, tôm, cuống búp (những phần non và mềm). Chúng hút tạo thành những vết rách và chấm, khi lành sẹo tạo thành những vết sần sùi màu nâu và có những vết nứt ngang. Bọ cánh tơ phá hại làm cho búp chè thô, cứng và cằn lại, lá biến dạng cong queo. Khi hại nặng, búp chè chùn lại, không phát triển được. Nhìn toàn bộ nương chè từ xa như thiếu dinh dưỡng nghiêm trọng. Trường hợp bị hại quá nặng, lá non bị rụng, chỉ còn lại cuống búp.
- Biện pháp phòng trừ: Sử dụng các loại thuốc hóa học như AFUDAN 20SC hiệu Carbo với lượng 1.5 – 2.0 lít/ha pha với 400 – 500 lít nước.
3. Nhện đỏ nâu:
- Triệu chứng gây hại: Nhện đỏ nâu thường tập trung gây hại trên các lá bánh tẻ và lá già. Khi cây chè bị nhện hại nặng, mật độ nhện nâu tăng cao, các lá chưa bị rụng nhiều, chúng có thể gây hại lên các lá non và rải rác cả mặt dưới lá. Hiện rất nhiều diện tích trồng chè nhìn xa như bị “cháy”, đó là do nhện đỏ chích hút lá làm lá cây chuyển sang màu nâu đồng, cây không phát triển được.
- Biện pháp phòng trừ: Sử dụng các loại thuốc như Nhện Chúa 200SC với lượng 100ml pha với 200 lít nước; Etoggo 20SC hiệu SIÊU NHỆN với lượng 250ml lít/ha và pha 200ml cho 400l nước.
4. Bọ xít muỗi:
- Triệu chứng gây hại: Bọ xít muỗi tập trung chích hút búp chè, lá non, cành non vào lúc sáng sớm và chiều tối. Khi có ánh nắng mặt trời, cả bọ xít non lẫn trưởng thành đều lẩn trốn. Nó thường ẩn mình dưới tán chè. Vết châm lúc đầu trong như giọt dầu, sau đó nhanh chóng chuyển thành màu nâu. Lá và búp chè bị hại sẽ mất nhựa, biến dạng trở nên cong queo, khô và thui đen. Bọ xít gây hại nặng từng bụi chè và từng vùng nhỏ tạo nên hiện tượng bị hại không đồng đều trên nương chè. Đám chè bị bọ xít muỗi hại nặng làm cho lá chè biến thành xanh đen. Chè chưa đến giai đoạn đốn bị hại nặng làm cây chè sinh trưởng kém.
- Biện pháp phòng trừ: Sử dụng các loại thuốc hóa học như FULLKILL 50EC hiệu OCHIPER 500 pha từ 10 – 15ml cho bình 25 lít nước.
Ngoài các sâu hại nêu trên, cây chè còn bị một số loại sâu hại khác như:
- Sâu cuốn lá non
- Sâu cuốn búp
- Rệp muội
- Sâu róm
- Sâu chùm
- Bọ nẹt
- Bọ nẹt trơ không gai
- Ruồi đục lá
- Sâu xếp lá
- Bọ xít bông
- Nhóm sâu kèn
- Sâu đục thân đỏ
- Mối hại chè
- Bọ xít hoa hại quả chè
- Rệp sáp
Cần phát hiện và phòng trừ kịp thời.
Bệnh hại chè
1. Bệnh phồng lá chè:
- Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Exobasidium spp Masse, thuộc họ Exobasidiaceae, bộ Exobasidiales, lớp phụ 2 Homobasidiomycetes của lớp nấm đảm Basidiomycetes.
- Triệu chứng: Bệnh phát sinh ở lá non, cành non, vết bệnh phần lớn ở mép lá. Đầu tiên trên lá xuất hiện những chấm nhỏ hình giọt dầu màu vàng nhạt, sau đó vết bệnh lớn dần, màu nhạt dần. Phía dưới vết bệnh (mặt dưới lá) phồng lên và mặt trên lõm xuống, phía lồi có hạt phấn màu trắng có giới hạn rõ rệt với phần lá khỏe. Sau một thời gian khoảng 5-7 ngày vết phồng vỡ ra giải phóng một lớp phấn trắng hoặc hồng hạt, chính là các bào tử của nấm. Sau khi các vết phồng vỡ vết bệnh chuyển thành màu nâu, lá chè bị co rúm. Bệnh làm giảm năng suất, chất lượng và làm chậm quá trình tái sinh trưởng các lứa chè sau.
- Điều kiện phát sinh bệnh: Dưới điều kiện ẩm độ cao 90% trở lên, nhiệt độ thấp và nhất là có sương mù hoặc mưa phùn kéo dài từ 15 ngày trở lên. Các thời điểm bệnh thường phát sinh mạnh là từ tháng 3 đến tháng 5 và tháng 9 đến tháng 10. Nhiệt độ thích hợp là 15-20°C. Nhiệt độ 11-12°C không có lợi cho phát sinh của bệnh và trên 26°C bệnh không phát triển.
Biện pháp phòng trừ:
– Tránh bón quá nhiều phân đạm và bón phân đạm đơn độc, vệ sinh nương chè như diệt cỏ dại tạo độ thông thoáng trong nương chè. Khi phát hiện thấy có bệnh xuất hiện cần thực hiện hái chè triệt để, hái hết các vết lá bệnh mang đi tiêu hủy.
– Trong thời gian bệnh phồng lá phát triển gây hại người làm chè cần tăng cường kiểm tra nương chè của mình, theo dõi dự báo thời tiết, nếu thấy bệnh đã phát triển nhiều và thời tiết còn thuận lợi cho bệnh phát triển cần chú ý hái hết các búp, lá có vết bệnh và sau khi hái dùng thuốc trừ bệnh Pyramos 40SL hiệu PYRO 40 với lượng 0.6 lít/ha pha với 400-500 lít nước; sử dụng Trichoderma spp và Bacillus spp hoặc thuốc trừ bệnh gốc đồng, kẽm phun khoảng 2 lần cách nhau 7-10 ngày.
2. Bệnh phồng lá chè mắt lưới:
- Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Taphrina (Taphrina deformans Berk. Tul.) gây ra.
- Triệu chứng: Bệnh gây hại ở lá bánh té và lá già của chè trưởng thành. Đầu tiên vết bệnh xuất hiện bằng đầu kim màu lục nhạt, ranh giới vết bệnh không rõ ràng, sau đó vết bệnh lớn dần, có lúc lan ra toàn bộ lá. Lá bị bệnh dày lên, màu nhạt dần đi, biến thành nâu sẫm, đồng thời phía dưới mặt lá xuất hiện các vết lồi lên có hình dạng mắt lưới. Trên mặt vết bệnh hình thành các vết phấn màu trắng. Thời kỳ từ khi vết bệnh có màu nâu tía đến màu đen tía thường khô vàng, lá chết dần và rụng. Bệnh có lúc làm lá cuộn lên phía trên. Đó là đặc điểm để phân biệt với bệnh phồng lá.
- Điều kiện phát sinh: Giống như bệnh phồng lá chè: ẩm độ cao, ôn độ thấp có nhiều sương, không thoáng gió. Mùa Xuân và mùa Thu là thời kỳ bệnh phát sinh mạnh nhất. Nấm bệnh ủ qua đông, hàng năm phát sinh vào tháng 4, 6 và tháng 9,10.
- Biện pháp phòng trừ: Tương tự với bệnh phồng lá chè.
3. Bệnh đốm nâu:
- Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Colletotrichum camelliae gây ra.
- Triệu chứng: Bệnh chủ yếu hại lá già, cành và quả. Trên lá, vết bệnh thường bắt đầu từ mép lá, vết bệnh có màu nâu, không có hình giáng nhất định hoặc hình bán nguyệt. Trên vết bệnh có các hình tròn đồng tâm, ở giữa vết bệnh; lá bị khô, có màu xám tro, đen, lan dần theo hình gợn sóng, bánh xe. Trên cành cũng có triệu chứng như vậy, bộ phận bị bệnh có thể bị rách (vỡ) ra.
- Điều kiện phát sinh: Bệnh ưa nóng ẩm nên thường phát sinh vào tháng 7, 8. Sau khi mưa liên tục 10-15 ngày bệnh phát triển rất mạnh. Phát sinh mạnh nhất ở nhiệt độ 27-29oC.
- Biện pháp phòng trừ:
Dọn sạch tàn dư cây bệnh để làm giảm nguồn bệnh năm sau. Nhóm ủ phân, làm sạch cỏ, chống hạn tốt làm cho cây phát triển khoẻ. Khi đốn chè thì vùi lá (ép xanh) để tiêu diệt nguồn bệnh. Bón đủ phân, cân đối NPK.
Dùng các loại thuốc có hoạt chất như Azoxystrobin + Cymoxanil (One Clear 50WG) để phòng trừ nấm bệnh thêm hiệu quả. Sử dụng thuốc bằng cách pha 100gr / 200 lít nước khi sử dụng phuy, pha 100gr / 5 công khi phun bằng máy bay.
4. Bệnh đốm xám:
Phòng trừ tương tự như đối với bệnh đốm nâu.
5. Bệnh đốm trắng:
Phòng trừ tương tự như đối với bệnh đốm nâu nhưng cần tăng cường bón phân kali và lân, đốn cây hợp lý.
Ngoài ra trên chè còn có một số bệnh hại khác như thối búp, bệnh chết loang, loét cành, đốm mắt cua, bệnh tảo, tóc đen, sùi cành chè: cần phát hiện và phòng trừ kịp thời.
Chú ý:
Ngoài ra trên chè còn bị các loài tuyến trùng gây hại như: Tuyến trùng gây nốt sần, gây hại rễ tơ của chè.
Theo dõi chúng tôi trên Facebook Công ty Ochigo Việt Nam để nhận được nhiều thông tin nông nghiệp bổ ích.
Nguồn: Trung tâm nghiên cứu khoa học nông vận, Hội nông dân Việt Nam

